ĐẠO QUY

  ĐẠO QUY 

 

THIÊN  KHAI  HUỲNH  ĐẠO

 

  Lời Mở Đầu:

            Tự ngàn xưa, trong các kinh sấm đã có những tiên tri về sự ra đời của Thiên Khai Huynh Đạo tại miền Nam nước Việt như sau:

              Ngươn hạ Tam Kỳ đáo Thượng Nguyên,

              THIÊN KHAI HUỲNH ĐẠO địa Nam tiền…

Theo lý Tam Ngươn thời gian vận hành, vào thời kỳ Hạ Ngươn, Đức HUYỀN KHUNG CAO THƯƠNG ĐẾ NGỌC HOÀNG ĐẠI THIÊN TÔN bằng huyền diệu Tiên Gia giáng trần, chuyển lập Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ với hồng ân đại xá, độ rỗi chúng sanh tu hành hầu thoát khỏi cảnh đọa sa luân trầm nơi sông mê bể khổ, phục hồi cựu vị.

             Lịch sử Tam Kỳ Phổ Độ của Đạo Trời phổ hóa trãi qua hai giai đoạn. Từ năm 1926 Bính Dần đến năm 1962 Nhâm Dần, gồm 36 năm gọi là giai đoạn phổ độ tá danh Cao Đài. Từ năm 1962 Nhâm Dần là giai đoạn Tam Kỳ chuyển tiếp tuyển độ với hồng ân Tam Niên Đại Xá Đạo Trời chính danh THIÊN KHAI HUỲNH ĐẠO.

             HUỲNH ĐẠO là Vô Vi Đại Đạo của Đức Thượng Đế ban truyền để cứu thế lập đời trong buổi Ngươn tàn.

Chánh Pháp Huỳnh Đạo là tinh hoa của Tam Giáo, kết hợp với siêu pháp kỳ Ba viên thành một mối Đạo cao nhiên, của đời Thượng Ngươn Thánh Đức.

 

 

CHƯƠNG I

DANH XƯNG - GIÁO CHỦ - GIÁO SỞ.

 

Điều 1: Danh Xưng Tôn Giáo:  THIÊN KHAI HUỲNH ĐẠO.

Điều 2: Đức Giáo Chủ Tôn Giáo THIÊN KHAI HUỲNH ĐẠO chính là Đức HUYỀN KHUNG CAO THƯỢNG ĐẾ NGỌC HOÀNG ĐẠI THIÊN TÔN.

Điều 3: Biểu tượng thờ Đức Giáo Chủ trên Thiên Bàn để cúng kính dâng lễ là một khung hình chữ nhật ở giữa và hai bên khung hình là câu liễn nền màu vàng, chữ màu đỏ, kích thước quy định tùy theo nơi thờ tại tư gia hay điện thờ, gồm có các nội dung như sau:

  • Dòng chữ trên cùng:    THIÊN KHAI HUỲNH ĐẠO.
  • Phía dưới gần trung tâm là một vầng hào quang màu trắng, ở giữa có đính một hột minh châu gọi là MINH CHÂU THIÊN QUANG.
  • Phía dưới cùng là hai hàng chữ:
    • Hàng chữ trên là CHÂU THIÊN
    • Hàng chữ dưới là DI LẠC THIÊN TÔN KHAI MÔN CHUYỂN PHÁP
  • Hai bên tượng thờ chính có đôi liễn với nội dung:
    • DI LẠC PHẬT VƯƠNG LÂM TIỀN HẬU HUYỀN NĂNG VÔ LƯỢNG THỐNG.
    • LONG HOA HUỲNH ĐẠO CHUYỂN CỔ KIM PHÁP CHÁNH VẠN THÙ QUY.

(Đính kèm phụ trang)

 Điều 4: Giáo Sở (Cơ sở Tôn Giáo) Bửu Điện Huỳnh Liên số F1-F3 đường 25 A Khu Phố Chợ An Dương Vương Phường 10, Quận 6, thành phố Hồ Chí Minh.

                             

CHƯƠNG II

 MỤC ĐÍCH - TÔN CHỈ - LẬP TRƯỜNG.

 

Điều 5 :

  • Mục đích     : Tam Giáo Quy Nguyên - Ngũ Chi Thống Nhứt.
  • Tôn Chỉ      : Từ Bi - Bác Ái - Công Bình.
  • Lập Trường   : Thuần Túy Tôn Giáo, phổ truyền Chánh Pháp cứu thế kỳ ba của Đức Thượng Đế, tuyển độ nguyên căn, góp phần xây dựng cõi đời thuần lương đạo đức, Minh Đức Tân Dân, Thượng Ngươn Tái Tạo.

                            

CHƯƠNG III

                                         

ĐẠO KỲ - PHƯỚN LINH -  ĐẠO PHỤC - ÂN CHƯƠNG

 

Điều 6:

  • Đạo Kỳ: Nền màu vàng, chung quanh có rua vàng, chiều rộng 80 cm,  chiều dài 120 cm, chính giữa có thêu biểu tượng Minh châu Thiên Quang.
  • Phướn Linh: Dài 1.200 cm, chiều rộng 50 cm có thêu dòng chữ “TAM GIÁO QUY NGUYÊN, NGŨ CHI THỐNG NHỨT”.

Điều 7:

  • Đạo Phục: gồm 2 loại
    • Đại Phục (Pháp Y Sa): có 2 màu đồng phục là trắng và vàng.
      1.  Đại phục màu trắng (Bạch Y) gồm: Khăn đóng trắng (bạch cân) 12 lớp chữ nhứt dùng để mặc cúng lễ trong các đàn cúng thường lệ vào ngày 14 - 29 hoặc 30 Âm Lịch.
      2. Đại phục màu vàng (Hoàng Y) gồm: Khăn đóng màu vàng (hoàng cân) 12 lớp chữ nhứt dùng để mặc cúng lễ trong các ngày Đại Lễ trong năm.
    • Tiểu Phục (Tiểu Y Sa): Chỉ có màu trắng đồng phục, mặc dùng trong hội họp, liên giao Đạo Đời, tang tế.

Điều 8 :

  • Ân Chương (Huy hiệu Đạo).
  • Phía trên là một bản hình chữ nhật kích thước 1cm x 3cm có 3 màu đỏ, vàng, xanh biển đậm.
  • Phía dưới là một vòng tròn có đường kính 4 cm, phía ngoài có 18 tia hào quang màu đỏ, vòng bên trong, bên trên là chữ Thọ Phong, bên dưới là chữ Thiên Ân. Phần trong cùng gồm Minh Châu Thiên Quang, dòng chữ Huỳnh Đạo màu vàng và hoa sen màu hồng trên nền trắng được xếp từ trên xuống dưới.
  • Ân chương Huỳnh Đạo được gắn trên đạo phục trong mọi sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo.

(Đính kèm phụ trang)

     

 

 

CHƯƠNG IV.

 

TỔ CHỨC NHÂN SỰ - CHẾ ĐỘ SINH HOẠT.

Điều 9:

  • Tổ Chức Nhân Sự: Nhằm để điểu hành môn sanh Huỳnh Đạo tu học, sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo, cũng như chịu trách nhiệm với luật pháp nhà nước, một Ban được lập ra có tên là BAN CAI QUẢN THIÊN KHAI HUỲNH ĐẠO gồm từ 5 - 7 người (nam, nữ) theo thể thức suy cử dân chủ, công khai, tập trung vào cuối nhiệm kỳ, nhân sự được giới thiệu và bầu chọn là người có tư cách công dân, uy tín trong đạo, có năng lực làm việc, với tinh thần hy sinh phục vụ cho sự nghiệp chung, thành phần nhân sự gồm có như sau:
    • Chánh Hội Trưởng (01 vị): Người đứng đầu trong họ Đạo, chịu trách nhiệm chính trong tổ chức tôn giáo về mặt luật pháp nhà nước và trong họ Đạo. Chủ trì các buổi cúng kính định kỳ hằng tháng, các phiên họp định kỳ, các buổi Lễ Hội tín ngưỡng truyền thống hằng niên, phân công, phân nhiệm cho các vị Phó Trưởng Ban chuyên trách các đạo sự chuyên môn như nghi lễ, học tập giáo lý, liên giao chi phái, quản lý tài chính, quản lý văn phòng hành chính v..v…
    • Phó Hội Trưởng (01 – 03 vị) và các Ủy Viên (02 - 03 vị ): Phó Hội Trưởng thứ I là trợ tá của Hội Trưởng, với nhiệm vụ điều hành trên phương diện hành chánh Đạo, Đời, thay mặt cho vị Hội Trưởng khi vị nầy vắng mặt, các vị phó Hội Trưởng còn lại được giao các nhiệm vụ chuyên trách trong sinh hoạt tín ngưỡng và tu trì.

Điều 10: Ban Cai Quản mỗi tháng họp định kỳ một lần vào ngày 14 Âm Lịch nhằm kiểm tra, đôn đốc, rút kinh nghiệm trong việc sinh hoạt tín ngưỡng, tu học theo phương hướng hoạch định trong tam cá ngoạt, từng năm của nhiệm kỳ.

 

CHƯƠNG V

TU HỌC – LIÊN GIAO HÀNH ĐẠO

 

Điều 11: Mọi nhân sanh trong xã hội tự nguyện hòa nhập tu học nơi Thiên Khai Huỳnh Đạo sẽ được tiến dẫn bởi 2 vị môn sanh cũ qua lễ thọ phong, chính thức là môn sanh Huỳnh Đạo. Việc tu học được chia làm 2 bậc:

  • Bậc Hạ Thừa: Giữ trai kỳ một tháng từ 06 hoặc 10 ngày trai tịnh, giữ gìn Ngũ giới cấm, thực hành Tứ Đại Điều Quy, chuyên về việc lập công quả. Còn gọi là tu về cơ Phước.
  • Bậc Thượng Thừa: Giữ hạnh trường trai, tuyệt dục, vẫn luôn thực thi công quả, giới cấm và điều quy giữ tròn, nhưng việc tu học có thêm phần tịnh luyện, tu tánh luyện mạng. Còn gọi là tu về cơ Huệ.

 

Điều 12: Trong sinh hoạt tín ngưỡng, tu học, Huỳnh Đạo qua mối tương quan Đạo Đời, tương liên tương đắc, liên giao với tinh thần hòa ái, hiệp tác kết liên với các chi phái, các tôn giáo bạn trong cộng đồng xã hội trên lập trường thuần túy đạo đức,tôn trọng lẫn nhau.

 

 

CHƯƠNG VI.

TÀI CHÁNH - SỬA ĐỔI.

 

Điều 13: Nguồn tài chính hoạt động trong họ Đạo và làm từ thiện, từ sự đóng góp công quả của môn sanh,và sự tự nguyện đóng góp của các vị Mạnh Thường Quân trong xã hội, được xuất nhập phân minh qua phiên họp định kỳ trong tháng.

 

Điều 14: Xuất phát từ yêu cầu thực tế qua tình hình phát triền của cơ Đạo, nội quy nầy sẽ được bồ túc và sửa đổi cho thích hợp, những chương, điều sửa đổi được trình bày trong dự án phương hướng hành Đạo cho nhiệm kỳ kế tiếp và được Hội nghị nhơn sanh đồng thuận trên đa số quá bán.

 

Điều 15: Đạo quy nầy gồm có 6 chương, 15 điều, là những nội dung căn bản trong việc sinh hoạt tín ngưỡng, tu học, làm từ thiện, góp phần an sinh xã hội, tiếp dẫn nhơn sinh tu hành, được thông qua Hội Nghị Nhơn Sanh ngày 01 tháng 08 năm 2012 (nhằm ngày 14 tháng 06 Âm Lịch Nhâm Thìn )            

 

                                                                                           THIÊN KHAI HUỲNH - ĐẠO.



Các tin khác