CHƠN TRUYỀN PHÁP CHÁNH HUỲNH ĐẠO KHAI NGUYÊN

TUYÊN  HÓA  CHƠN  KINH

( HUỆ LINH  KHẢI CÁO )

                       

TỰ  NGÔN  QUAN  THẾ  ÂM  MINH  GIÁO :

 

TỤNG ĐẮC NHẤT THIÊN BIẾN

NHẤT THÂN LY KHỔ NẠN

                       

                             Cần đọc thiên vạn biến,

                             Tai nạn tự nhiên đắc giải thoát.

                             Oan sự đắc tán, trọng sự đắc lưu,

                             Cửu Huyền Thất Tổ tịnh độ siêu thăng.

       GIẢI NGHĨA :

         Chính PHẬT NGÔN của Đức QUÁN THẾ ÂM truyền dạy, nếu người nào mỗi thời tụng đầy đủ CHƠN KINH HUỲNH ĐẠO này, noi theo đó tụng đủ 1.000 lần thì thân thể không còn vướng tai to nạn lớn.

         Tụng đúng 10.000 lần tất cả CHƠN KINH HUỲNH ĐẠO thì  toàn thể gia đình sẽ tránh được tai to nạn lớn, tam đồ chi đọa. (chết về nghiệp đao kiếm, nước, lửa).

 Nếu lâm nạn hay hoạn tai ương, ngục tù oan sự mà thành tâm cầu tụng CHƠN KINH HUỲNH ĐẠO trăm ngàn lần thì tự nhiên sẽ được giải thoát. Người có công quả ấn tống truyền bá CHƠN KINH HUỲNH ĐẠO này, dìu dẫn người học Đạo thì Long Thần Hộ Pháp phò trì, cứu được Cửu Huyền Thất Tổ và toàn gia tôn tử được hưởng phước thanh nhàn tại thế.

CÔNG QUẢ TÁM THIÊN SỐ ĐƯỢC HƯỞNG PHƯỚC TỨ  VẠN   NIÊN.

 

Nghĩa là :

 

          Riêng về phần tụng niệm thành tâm cúng kính đầy đủ, người trọn lòng thành tụng Chơn Kinh tứ thời Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu trong một ngày, như thế gọi là 1 công quả, như thế sẽ được hưởng phước nơi cảnh Tiên Thiên 40.000 năm mới luân hồi trở lại.

Chiếu đại hồng thệ, chiếu huệ linh thông, chiếu thượng đẳng thiên điều trước uy linh Tam Giáo, ta xin nhận trách nhiệm vô vi lẫn hữu hình khẩn cáo cho tất cả nguyên nhân, linh tử vạn loài, tiền thân, hiện thân, hóa thân đời đời kiếp kiếp thề chẳng đổi dời.

                                                                 Thừa bút Huệ Linh

                                                               Pháp Chủ Huỳnh Đạo

 

CHƠN TRUYỀN PHÁP CHÁNH

HUỲNH ĐẠO KHAI NGUYÊN

 

Hởi tất cả nguyên nhân linh tử !

Hởi các bậc thiện lương chân nhân chúng sanh vạn hữu !

Là con người có Tam Hồn Thất Phách đầy đủ ngũ quan tăng trưởng bởi ngũ hành điều hòa trong tứ đại kết hợp bởi tam bửu siêu mầu, là tiểu vũ trụ trong đại vũ trụ, là duy ngã trong đại ngã, là linh tử của Thượng Đế, Đấng Tối Linh Tối Diệu ban ra.

Có được sự sống linh tuệ phi thường, con người là chủ tể của muôn loài vạn vật hữu hình nhưng đứng trước hai con đường :

1.- Vô vi thượng trí xán lạn cao minh.

2.- Hữu hình phàm tâm, u tối mịt mờ.

Làm người ai cũng hiểu rõ hai con đường như thế.

A.- Phần Thượng trí :

 Là sự tổng hợp với sự huyền bí thậm thâm cao khiết tuyệt vời, trong sạch toàn nhiên, khinh thanh mầu nhiệm rộng rãi bao la, chan chứa vô cùng,  vô tận,  vô biên. Đó là con đường của các bậc hiền triết thánh nhân NHƯ LAI, BỒ TÁT đã từng đi qua trên quả địa cầu vô thường biến dịch thay đổi này.

B.- Phần Hạ trí :

 Phàm tâm hữu hình tham cầu vật chất nhận tứ đại làm mình, coi thân này làm thiệt, cố tranh đấu với thời gian sống với hạ trí nhỏ nhen, đấu tranh cùng vật chất, nô lệ cho thất tình, tôi đòi cho thể xác mà quên rằng càng chìu theo hạ trí tham cầu càng đi sâu vào hủy diệt đến nổi mất đi nhân tánh của THƯỢNG ĐẾ ban cho trên đường tấn hóa để trở thành các bậc  Thánh Nhân Hiền Triết. Nếu mãi mê vật dục thì đối với thú cầm nào có khác chi, khi tuổi đời chỉ trong vòng ba vạn sáu ngàn ngày là hủy diệt.

Thừa luật tấn hóa từ  thuở lập địa khai thiên đến nay, con người đã đạt đến phần văn minh vật chất tuyệt vời, tuy nhiên cũng không thể vượt quá quyền sanh tử.

 

SỰ CẦU NGUYỆN  VÀ TỤNG NIỆM

 

Tuy cầu nguyện và tụng niệm là trái với thiên luật nhưng nếu không tụng niệm và cầu nguyện thành tâm thì không thể biểu tượng được là một con người có đầy đủ đức tính thiêng liêng cao khiết hơn muôn vật hữu hình trên quả địa cầu này để gần gũi với Đấng Cao Linh Minh Triết.

Sự cầu nguyện và tụng niệm là để ảnh hưởng đến tâm ta, để phá lần hạ trí tiếp thông đến cảnh giới mà con người không thể dùng hạ trí biết được.

Mục đích cuối cùng của sự cầu nguyện và tụng niệm là để khai thông chơn tánh, biểu lộ chơn tâm, tiếp nối với phần cao siêu huyền diệu mà chính  ĐỨC PHẬT đã từng di giáo PHẬT TÍCH TÂM  là thế đó vậy.

¯  TAM  QUY  (QUI  Y)

               QUY  Y  là gì  ?     -  QUY    :       là trở về.

                                               -  Y          :       là nương tựa.

Tam Qui  là 3 sự trở về để nương tựa. Ấy  là :

1.-  QUY  Y PHẬT (Nam Mô Phật): 

Là trở về nương tựa vào Phật , Thánh , Tiên , để nhờ sự chỉ dẫn chân chánh của Đức Phật cũng như của các Đấng Thiêng Liêng.

2.-  QUY  Y  PHÁP  (Nam Mô Pháp):

 Là trở về nương tựa vào Pháp, là nghe theo những lời giảng dạy sáng suốt của các Đấng Thiêng Liêng. Pháp ấy có công năng như một chiếc thuyền Bát Nhã đưa chúng sanh qua bờ giác.

3.-  QUY  Y  TĂNG  (Nam Mô Tăng):

Là trở về nương tựa vào Tăng Ni Trưởng để nghe lời truyền giáo của Chư Tăng Ni Trưởng là những người đã xuất gia tu tập, hy sinh đời sống cá nhân để làm sứ mạng giữ gìn Giáo Pháp và giảng dạy Giáo Lý cho kẻ khác.                                              

TAM  BẢO

  ¯ TAM  BẢO  là  gì  ?     -  TAM  :    là  ba.    

                                                   -  BẢO   :   là quý 

  Phật, Pháp, Tăng là thứ tôn quí nhất của người tu học, nên gọi là Tam Bảo.

Vậy công việc đầu tiên của người nhập môn là Quy Y Tam Bảo nghĩa là đến chùa xin làm lễ nhận mình vào hàng TÍN ĐỒ HUỲNH ĐẠO.

 

NGHI  THỨC  QUY  Y

 

Quy Y là buổi lễ quan trọng nhất trên đường tu học của chúng ta. Nó là bước đầu tiên để đi tới mục đích giải thoát. Vì thế chúng ta không thể cử hành một cách quá đơn giản được.

1.-  Gội rửa Thân, Tâm, Trí cho trong sạch:

Trước ngày quy y, chúng ta ăn chay, sám hối. Đến ngày quy y, chúng ta tắm rửa sạch sẽ, ăn mặc chỉnh tề, giữ tâm trí thanh tịnh.

 2.-  Lễ phát nguyện:

Đến giờ hành lễ, chúng ta phải quỳ trước Thiêng Bàn và nghe lời hướng dẫn của Chư Tăng Ni Trưởng. Chúng ta chí thành phát nguyện:

  •           Đệ tử nguyện suốt đời quy y theo Tôn chỉ HUỲNH ĐẠO, quyết một dạ không hai, chẳng hề phản Đạo.
  •             Đệ tử nguyện suốt đời quy y theo Chánh pháp HUỲNH ĐẠO, để tiến đến mục đích giải thoát.
  •     Đệ tử nguyện suốt đời qui y theo Tăng Ni Trưởng HUỲNH ĐẠO đã thay Phật, Thánh, Tiên truyền giáo cho chúng ta.

3.-  Lễ thọ Đạo Phục:

Người Đệ tử quỳ trước Thiêng Bàn, một vị Đại Chức Sắc trao cho một bộ Đạo Phục, người đệ tử nhận lấy và nói:

- Đệ tử xin nguyện giữ lòng trong sạch như bộ Đạo Phục này.

- Đệ tử xin tạ thâm ân của Đức Thượng Đế.

           Xong rồi đảnh lễ.

Sau khi làm lễ quy y xong, việc thứ hai là giữ giới, nghĩa là chúng ta tuân theo những lời răn cấm của Đức Phật và các Đấng Thiêng Liêng dạy do chư Tăng Ni Trưởng đại diện Ơn Trên truyền giảng.

ĂN  CHAY

 

I.-  TẠI  SAO  CHÚNG TA  ĂN  CHAY? TỨ  ĐẠI  ĐIỀU  QUY

Bốn điều trọng đại  phải nghe theo là:

  1. Phải tuân theo lời dạy của Bề Trên. Lỡ lầm lỗi phải ăn năn chịu tội.
  2. Đừng khoe tài giỏi, đừng tự cao, tự kiêu. Phải giữ hạnh khiêm cung.
  3. Bạc tiền xuất phát phải phân minh. Đừng mượn vay không trả, phải giữ vẹn  công  bằng và tình đồng Đạo.
  4. Đừng thất lễ với mọi người, phải kính trên nhường dưới. Từ xưa tới nay, theo tập quán truyền thống của Tổ Tiên thì phần đông người Đạo Tâm ăn chay những ngày sóc vọng (Rằm và mùng một) để tưởng Trời tưởng Phật, nuôi dưỡng tâm lành và tránh tội sát sanh.

Sau này, người ta ăn chay vì thấy rất hợp vệ sinh (các thứ hột, trái cây, đậu và rau cải là những thức ăn rất hợp vệ sinh và bổ dưỡng). Nó giúp cho thân thể tráng kiện, tinh thần sáng suốt và tránh biết bao nhiêu là bệnh tật.

II.-  CÁCH THỨC ĂN CHAY:

 Chúng ta cần phải ăn chay một cách tuần tự theo căn cơ và trình độ của mỗi người. Phải có tu nhiều đời nhiều kiếp rồi kiếp này mình ăn chay mới bền vững, bằng nếu ép xác sau một thời gian thế nào mình cũng ngã mặn. Vì thế trong Đạo, người ta chia ra hai loại ăn chay:

         ĂN CHAY KỲ: Là ăn chay có kỳ hạn, nhứt định trong mỗi tháng mấy ngày hoặc trong mỗi năm mấy lần, mấy tháng. Chay kỳ thường áp dụng cho những người mới nhập môn và cho các Thanh Xuân Thanh Đồng.

 ĂN CHAY TRƯỜNG: Là ăn chay luôn, ngày nào cũng ăn liên tiếp, không gián đoạn cho đến suốt đời. Trường trai là hạnh tu của quý vị Tăng Ni Trưởng HUỲNH ĐẠO. Đến bậc này thì tất cả đều trai giới nghiêm chỉnh tại gia và xuất gia để mau phát huệ và đắc Đạo.

KẾT LUẬN:  Ăn chay là chánh pháp tu trì quan trọng nên cần ghi nhớ những điều sau đây:

  1. Không nên ép xác ăn chay: Không nên ăn chay khổ hạnh bằng cách ăn ròng tương rau, muối xả ớt trong nhiều năm liên tiếp. Ăn như thế lâu ngày mất máu, mất sức khỏe, thân xác khô khan, xanh xao, bịnh hoạn có thể chết trước ngày thành Đạo.
  2. Không nên quên những ngày chay: Vì lòng đã phát nguyện rồi, dù đi lỡ đường, làm việc quá buổi cũng phải nhớ ngày chay và tìm cách ăn uống cho đều đều.
  3. Phải tịnh luyện cho thường, đúng thời buổi: Thì dục vọng, các phiền não và các si mê không còn xúi dục chúng ta thèm nữa. Mỗi ngày chúng ta đã được rửa sạch lành mạnh. Chúng ta không còn nhớ tới thịt, cá và không còn ăn mặn được nữa.

 

NGŨ  GIỚI

 

Trì  Ngũ Giới  là gì?  Trì là giữ gìn.

Ngũ là năm. Giới là răn cấm.

Năm điều răn cấm này sẽ răn ngừa chúng ta làm những điều xằng bậy khỏi bị sa vào vực sâu, hố thẳm và sẽ đưa chúng ta mạnh tiến trên đường giải thoát.

Năm điều răn cấm ấy là :

1.-  Không sát sanh.

2.-  Không trộm cướp.

3.-  Không tà dâm.

4.-  Không vọng ngữ.

5.-  Không ẩm tửu.

ĐỨC PHẬT đã chỉ cho chúng ta con đường này là con đường sáng nên đi để đến chỗ giải thoát yên vui. Nhưng nếu chúng ta dại dột không đi theo con đường sáng mà lại lầm lạc đi vào con đường tối tăm thì chúng ta sẽ đi vào chỗ nguy hiểm và sẽ gặp những tai họa dồn dập đau khổ suốt đời.

*  KHÔNG SÁT SANH:

Sát là giết. Điều răn cấm trước tiên là PHẬT khuyên chúng ta không nên giết hại người và sinh vật bởi nhiều lý do:

  1. Tôn trọng sự công bằng: Mình biết quí trọng sanh mạng mình thì mình cũng nên biết quí trọng sanh mạng kẻ khác. PHẬT dạy ai ai cũng sợ gươm đao, ai ai cũng sợ chết. Vậy nên lấy lòng mình mà suy lấy lòng người, chớ giết, chớ bảo giết.
  2. Tôn trọng phật tánh bình đẳng: Tất cả chúng ta đều đồng một  PHẬT TÁNH  bình đẳng. Sát hại một sinh vật là sát hại PHẬT TÁNH  vậy.
  3. Nuôi dưỡng lòng từ bi: Người có tâm từ bi hay lòng nhân đều không nở giết hại người và sinh vật. Thấy nó sống, không đành giết nó mà ăn thịt. Như thế chúng ta nuôi được lòng từ bi của mình một ngày một lớn.
  4. 4.- Tránh nhân quả báo ứng: Tránh tạo được nghiệp sát là tránh được nhân quả báo thù. PHẬT dạy: Thường sanh tâm sát hại, càng tăng trưởng những nghiệp khổ, mãi xoay vần trong sanh tử, không có ngày ra khỏi

(Kinh Lăng Già).

KHÔNG TRỘM CƯỚP:

Phật cấm lấy trộm, ăn cắp tiền tài, cướp giựt đồ vật của người khác vì những lý do sau đây:

  1. Tôn trọng sự công bằng: Mình không muốn người ta trộm cướp của mình thì mình đừng trộm cướp của kẻ khác, như thế là mình biết tôn trọng lẽ công bằng xã hội.
  2. Nuôi dưỡng lòng từ bi: Tiền tài là huyết mạch. Chúng ta thương người nên không trộm cướp của người, nghĩa là không làm cho người đau khổ. Như thế chúng ta nuôi dưỡng được lòng từ bi, bác ái.
  3. Tránh  những nghiệp báo oán  thù: Trộm cướp của người sẽ bị  người trộm cướp lại, gây báo oán thù đau khổ. Nhưng nếu luật pháp thế gian không trừng trị thì người trộm cướp cũng không sao tránh khỏi luật nhân quả báo ứng sớm hay muộn để răn đời.

KHÔNG TÀ DÂM

Dâm là thú vui của xác thịt. Vợ chồng lén lút lang chạ, say đắm trụy lạc trong thú vui xác thịt là TÀ.  Luật Đạo dạy người xuất gia  ly tục phải dứt hẳn dâm dục, còn người tại gia thì không được tà dục bởi những lý do sau đây:

  1. Tôn trọng sự công bằng: Ai ai cũng muốn gia đình mình đầm ấm yên vui thì mình cũng đừng phá gia cang kẻ khác.
  2. Bảo vệ hạnh phúc gia đình: Muốn giữ hạnh phúc gia đình thì vợ chồng phải nhứt dạ thủy chung. Cho nên cấm tà dâm là để xây dựng hạnh phúc cho gia đình mình và cho gia đình người.

*  KHÔNG VỌNG NGỮ:

  1. Nói dối, nói láo: Là không nói thật, chuyện có nói không, chuyện không nói có, chuyện phải nói quấy, chuyện quấy nói phải.
  2. Nói thêu dệt: Là chuyện ít nói xít thêm nhiều không đúng với sự thật.
  3. Nói lưỡi 2 chiềuLà nói xấu 2 bên làm cho 2 bên oán ghét nhau suốt đời.
  4. Nói lời độc ácLà nói những lời khiếm nhã, thô tục, cọc cằn làm cho người nghe phải buồn giận.

 

VÌ  SAO  PHẬT  CẤM  VỌNG  NGỮ?

Vì những lý do sau đây:

  1. Tôn trọng sự thật: Nói thật là nói những lời chơn chánh của Bổn Thể Thiêng Liêng ở trong chơn tâm hiện ra, nói thật để tôn trọng những lời chân chánh ấy vì hể nói dối thì chúng ta phải xa lìa Phật Tánh vậy.
  2. Bảo tồn sự trung tín trong xã hội: Đạo Nho có câu: NHÂN VÔ TÍN BẤT LẬP nghĩa là người không ai tin thì chẳng làm gì nên thân được. Hạnh phúc gia đình xã hội sẽ bảo tồn, nên chúng ta được mọi người tín nhiệm.
  3. Tránh những nghiệp báo đau khổ: Không vọng ngữ sẽ được mọi người thương, kính, tránh khỏi những nghiệp báo, thù hiềm, oán ghét, không bị người mưu hại mình. Tức là mình không đau khổ.

KHÔNG ẨM  TỬU:

Ẩm là uống, Tửu  là rượu. Uống rượu là chất nóng làm cho con người mất bình tỉnh, mất sáng suốt. Chẳng những chúng ta không uống rượu, nhưng chúng ta còn khuyên người đừng uống rượu để giữ sức khoẻ, sống lâu cho mau đắc quả.

 

VÌ NHỮNG LÝ DO NÀO PHẬT CẤM  UỐNG  RƯỢU?

Vì những lý do sau đây:

  1. Bảo toàn hạt giống trí huệ: Không uống rượu thì hạt giống trí huệ chúng ta vẫn còn sáng suốt, tâm chúng ta bình tỉnh như thường.
  2. Ngăn ngừa những nguyên nhân sanh ra tội lỗi:  Rượu vào lời ra, rồi từ đây nhiều tội lỗi phát sinh như giết người, trộm cướp, tà dâm, vọng ngữ, tham sân si.

Cho hay: uống rượu mất bình tỉnh, mất sáng suốt và mất hết cả nhân phẩm làm người trong CỬA ĐẠO thì không bao giờ gần được con đường giải thoát.

 Xin nhớ câu của  ĐỨC DIÊU TRÌ KIM MẪU dạy: 

ĐẠO CHẲNG PHỤ, CON HIỀN PHỤ ĐẠO

ĐỜI PHỤ CON, CON MÃI THEO ĐỜI

                                                                           …  Là  thế.

 KẾT  LUẬN

NGŨ GIỚI là năm điều răn cấm và cũng là năm nấc thang của người CƯ SĨ tại gia để bước lần lên quả THÁNH. Họ phải cố gắng giữ vẹn giới luật để đem lại hạnh phúc cho mình và cho chúng sanh.

Nếu chúng ta nhập môn rồi mà lòng trần chưa đoạn còn ăn thịt, uống rượu, còn tham lam, dâm dục, còn nói láo, nói độc ác, nếu mình một ảo tưởng mà thôi.

Trong VÔ LƯỢNG THỌ KINH ai thọ trì NGŨ GIỚI, tu hành các giới ấy không phạm NGŨ NGHỊCH  cùng các tội lỗi, đem căn lành hồi hướng, nguyện sanh về Tây Phương Cực Lạc Thế Giới thì lúc mạng chung có PHẬT A-DI-ĐÀ hiện đến thuyết pháp cho nghe, liền sanh về cõi Cực Lạc dự hàng TRUNG PHẪM THƯỢNG SANH (trong CỬU PHẪM VÃNG SANH) ở đó mà tu hành cho tới đắc quả  A – LA - HÁN.

 



Các tin khác